THỜI GIAN TRÔI

TÀI NGUYÊN DẠY HỌC

TỪ ĐIỂN ONLINE


Tra theo từ điển:



WEB TIN TỨC - GIẢI TRÍ

THỜI TIẾT VIỆT NAM

Thủ đô Hà Nội
Ha Noi

Cố đô Huế
Co Do Hue

Tp Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh

Tp Ðà Nẵng
Da Nang

CẬP NHẬT THÔNG TIN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    BẢNG MỨC ĐỘ LÝ THUYẾT , BÀI TẬP, THỰC HÀNH

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lâm Quốc Thắng (trang riêng)
    Ngày gửi: 20h:30' 04-02-2017
    Dung lượng: 114.0 KB
    Số lượt tải: 21
    Số lượt thích: 0 người
    PHẦN THỨ NHẤT
    MÔ TẢ VỀ CẤP ĐỘ TƯ DUY
    Cấp độ tư duy
    Mô tả
    
    Nhận biết
    (cấp độ 1)
    Học sinh nhớ được (bản chất) những khái niệm cơ bản của chủ đề và có thể nêu hoặc nhận ra các khái niệm khi được yêu cầu.
    
    Thông hiểu
    (cấp độ 2)
    Học sinh hiểu các khái niệm cơ bản và có thể sử dụng khi câu hỏi được đặt ra gần với các ví dụ học sinh đã được học trên lớp.
    
    Vận dụng (thấp)
    (cấp độ 3)
    Học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần và có thể sử dụng các khái niệm của chủ đề trong các tình huống tương tự nhưng không hoàn toàn giống như tình huống đã gặp trên lớp.
    
    Vận dụng ở cấp độ cao
    (cấp độ 4)
    Học sinh có khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản để giải quyết một vấn đề mới hoặc không quen thuộc chưa từng được học hoặc trải nghiệm trước đây, nhưng có thể giải quyết bằng các kỹ năng và kiến thức đã được dạy ở mức độ tương đương. Các vấn đề này tương tự như các tình huống thực tế học sinh sẽ gặp ngoài môi trường lớp học.
    
    

    PHẦN THỨ HAI
    MÔ TẢ CẤP ĐỘ TƯ DUY CHO TỪNG LOẠI BÀI TẬP

    Bảng mô tả về 4 mức độ yêu cầu cần đạt của một số loại câu hỏi, bài tập thông thường.
    Loại câu hỏi, bài tập
    Mức độ yêu cầu cần đạt
    
    
    Nhận biết
    Thông hiểu
    Vận dụng
    Vận dụng cao
    
    Định tính
    Xác định được một đơn vị kiến thức và nhắc lại được chính xác nội dung của đơn vị kiến thức đó.
    Sử dụng một đơn vị kiến thức để giải thích về một khái niệm, quan điểm, nhận định… liên quan trực tiếp đến kiến thức đó
    Xác định và vận dụng được nhiều nội dung kiến thức có liên quan để phát hiện, phân tích, luận giải vấn đề trong tình huống quen thuộc.
    Xác định và vận dụng được nhiều nội dung kiến thức có liên quan để phát hiện, phân tích, luận giải vấn đề trong tình huống mới
    
    Định lượng
    Xác định được các mối liên hệ trực tiếp giữa các đại lượng và tính được các đại lượng cần tìm.
    Xác định được các mối liên hệ liên quan đến các đại lượng cần tìm và tính được các đại lượng cần tìm thông qua một số bước suy luận trung gian.
    Xác định và vận dụng được các mối liên hệ giữa các đại lượng liên quan để giải quyết một bài toán/vấn đề trong tình huống quen thuộc.
    Xác định và vận dụng được các mối liên hệ giữa các đại lượng liên quan để giải quyết một bài toán/vấn đề trong tình huống mới.
    
    Thực hành, Thí nghiệm
    Căn cứ vào kết quả thí nghiệm đã tiến hành, nêu được mục đích và các dụng cụ thí nghiệm.
    Căn cứ vào kết quả thí nghiệm đã tiến hành, trình bày được mục đích, dụng cụ, các bước tiến hành và phân tích kết quả rút ra kết luận.
    Căn cứ vào phương án thí nghiệm, nêu được mục đích, lựa chọn dụng cụ và bố trí thí nghiệm; tiến hành thí nghiệm và phân tích kết quả để rút ra kết luận.
    Căn cứ vào yêu cầu của thí nghiệm, nêu được mục đích, phương án thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ và bố trí thí nghiệm; tiến hành thí nghiệm và phân tích kết quả để rút ra kết luận.
    
    
    PHẦN THỨ BA
    KỸ NĂNG VÀ KỸ XẢO VẬT LÍ
    I. KỸ NĂNG VẬT LÍ
    1.Kỹ năng Vật lí là những hành động thực hành mà người học có thể thực hiện được trên cơ sở những kiến thức Vật lí đã thu nhận được và những hành động này lại giúp người học thu nhận được kiến thức Vật lí mới và những kiến thức khác nói chung. Hoặc, kỹ năng Vật lí là sự vận dụng kiến thức Vật lí vào thực tiễn và là hoạt động tự bồi dưỡng kiến thức, làm cho ta biết cách vận dụng đúng kiến thức Vật lí đã học.
    2.Tại sao phải rèn kỹ năng Vật lí?
    + Trước hết, việc rèn kỹ năng nói chung và kỹ năng Vật lí nói riêng là một điều tất yếu vì chúng được coi là một mặt của kiến thức bên cạnh mặt kia là kiến thức thuần tuý chỉ mang tính thông tin. Hai mặt này bổ sung cho nhau và tạo thành một loại kiến thức hoàn chỉnh và đầy đủ. Kiến thức thông tin chỉ được hiểu đầy đủ và sâu sắc nhờ kiến thức kỹ năng. Kiến thức kỹ năng chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở kiến thức thông tin.
    +Thứ hai, do mục đích của hoạt động học tập là để có kiến thức và có khả năng hoạt động để đáp ứng được những yêu cầu ngày càng to lớn mà xã hội đặt ra. Con người của thời
     
    Gửi ý kiến

    TIN TỨC HẰNG NGÀY